Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

Áp lực tỷ giá cuối năm 2011


Áp lực tỷ giá cuối năm 2011
Tỷ giá USD tại VN đã duy trì ổn định dưới 21.000 đồng trong vòng 3 tháng qua. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia dự báo, áp lực tăng giá của ngoại tệ này trong những tháng cuối năm rất lớn.
Cầu tăng, giá tăng

Tính đến hết tháng 6, tín dụng ngoại tệ tăng hơn 23% so với cuối năm 2010 trong khi tín dụng tiền đồng tăng chưa tới 3%. Đây là kết quả tất yếu khi lãi suất cho vay tiền đồng vẫn ở mức cao ngất ngưởng trong thời gian qua đã khiến hàng loạt doanh nghiệp (DN) có xu hướng vay vốn bằng ngoại tệ. Nhưng cũng vì thế, những con sóng ngầm trên thị trường ngoại tệ là hoàn toàn có thật. Theo TS Hoàng Công Gia Khánh - Trưởng khoa Ngân hàng, ĐH Kinh tế - Luật TP.HCM, việc chuyển sang vay vốn bằng ngoại tệ, nhất là USD của DN thời gian qua khá lớn sẽ dẫn đến áp lực trả nợ tại một thời điểm khá cao.Thông thường khoảng thời gian 3-6 tháng sau khi vay. Khi đó nhu cầu về USD tăng lên và đây là một trong những áp lực làm cho giá USD có thể biến động theo chiều hướng gia tăng. Đồng quan điểm trên, ông  Huỳnh Thế Du - giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, cho rằng bản chất của nền kinh tế VN là luôn thiếu USD do tình trạng nhập siêu kéo dài. Do đó việc giữ tỷ giá USD ổn định trong thời gian qua chỉ mang tính tạm thời. Từ nay đến cuối năm khả năng tăng giá USD là tất yếu vì áp lực về cầu ngoại tệ này đang tăng lên. Trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước (NHNN) muốn giảm lãi suất thì phải bơm tiền đồng và điều đó cũng sẽ tạo thêm áp lực cho tỷ giá.
Trong báo cáo triển vọng thị trường tiền tệ số ra tháng 8.2011 vừa qua, Tập đoàn HSBC cũng dự báo tỷ giá USD tại VN sẽ tăng lên 21.500 đồng từ quý 3/2011 và sẽ duy trì mức tỷ giá này đến hết quý 2/2012. VND cũng là đồng tiền duy nhất tại khu vực Nam Á (mà HSBC đưa vào so sánh) sẽ giảm giá so với USD trong khi đồng tiền của các nước như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan,... đều được dự báo sẽ tăng giá so với USD trong cùng thời gian này.

Cần linh hoạt hơnTheo NHNN, dự trữ ngoại hối đã gia tăng thêm được 5 tỉ USD trong thời gian qua. Dựa trên số liệu của IMF công bố, ước tính dự trữ ngoại hối của VN hiện tại vào khoảng 16 - 17 tỉ USD. Mức dự trữ ngoại hối này tuy không phải quá lớn nhưng cũng có thể giúp NHNN can thiệp vào thị trường ngoại hối trong ngắn hạn. Thế nhưng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa luôn gia tăng vào những tháng cuối năm dẫn đến nhu cầu về thanh toán của DN tăng; lạm phát cao... nên cuối năm luôn là thời điểm nhạy cảm biến động về vấn đề tỷ giá. Vì vậy, giảm áp lực tăng giá USD hoặc tránh cho thị trường những cú sốc đột ngột là bài toán mà NHNN phải thực hiện. TS Hoàng Công Gia Khánh cho rằng NHNN nên chấp nhận biến động tỷ giá linh hoạt theo sát cung cầu của thị trường và không nên xem tỷ giá như một cái neo cố định. NHNN phải xác định tỷ giá mục tiêu đến cuối năm và có lộ trình để thị trường thích nghi. Đặc biệt NHNN cần mạnh dạn phát đi thông điệp rõ ràng về vấn đề này để người dân tránh kỳ vọng vào việc tăng giá USD trong thời gian tới.Theo các chuyên gia kinh tế, nếu giá USD biến động thì sẽ càng khó có cơ hội để kéo giảm lãi suất VND như mong muốn. Nếu cứ áp dụng cứng ngắc chính sách hành chính để neo giữ tỷ giá USD cố định thì sẽ tiếp tục xảy ra tình trạng hai giá trong giao dịch USD như trước đây. Vì vậy theo ông Huỳnh Thế Du, chính sách tỷ giá cần linh hoạt hơn trong từng thời điểm. Ngoài ra, vẫn phải tiếp tục kiên trì chính sách tiền tệ chặt chẽ, giảm việc in thêm tiền hay nguồn vốn đưa vào những khu vực không hiệu quả càng thêm bất lợi trong việc kiểm soát lạm phát và tỷ giá. TS Lê Thẩm Dương - ĐH Ngân hàng TP.HCM, nhấn mạnh: NHNN phải nhanh chóng có ngay các giải pháp công bố trong tháng 8 để tạo niềm tin cho người dân vì các tín hiệu căng thẳng lên tỷ giá USD đã quá rõ. Bởi càng để chậm, việc kỳ vọng vào tỷ giá USD tăng hay giảm đều nguy hiểm như nhau vì nó sẽ khiến cho thị trường tiền tệ không ổn định và sẽ dẫn theo nhiều hệ lụy khác.
Theo ffa.com.vn

Lương tối thiểu có thể tự điều chỉnh theo biến động giá


Điều chỉnh lương tối thiểu thế nào?

Nếu được thông qua Luật Lương tối thiểu năm 2014 thì lương trả cho người lao động sẽ tự động điều chỉnh theo biến động giá.

Hiện nay, mức lương tối thiểu năm 2011 hiện tại như sau:

VùngMức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 1/10/2011 – 31/12/2012
I2.000.000 đồng/tháng
II1.780.000 đồng/tháng
III1.550.000 đồng/tháng
IV1.400.000 đồng/tháng

Bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Vụ Lao động – Tiền lương, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết, Bộ đang có kế hoạch soạn thảo Luật Tiền lương tối thiểu, dự kiến sẽ được trình Quốc hội thông qua vào năm 2014.

Đại diện Vụ Pháp chế của Bộ này cho hay, Luật Lương tối thiểu sẽ quy định những căn cứ để xác định mức lương tối thiểu, bao gồm: nhà ở, ăn uống, đi lại, bảo hiểm… và quy định những thành phần nào có quyền điều chỉnh mức lương tối thiểu. Hiện nay chưa có quy định cụ thể những căn cứ xác định lương tối thiểu.
Theo Bộ luật Lao động, lương tối thiểu là một mức lương thấp nhất theo quy định. Đó là số tiền trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong xã hội với điều kiện làm việc và cường độ lao động bình thường, lao động chưa qua đào tạo nghề.

Khi Luật Lương tối thiểu ra đời, sẽ từng bước đảm bảo đời sống cho người lao động ở mức cơ bản nhất. Lương tối thiểu sẽ điều chỉnh theo biến động giá.

Cũng theo Đại diện Vụ Pháp chế, Luật sẽ quy định, khi giá cả biến động thì mức lương tối thiểu cũng phải điều chỉnh theo, tránh để tình trạng “lương chạy theo giá” như hiện nay.

Trong giai đoạn 2011 - 2016, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đăng ký với Chính phủ trình Quốc hội thông qua 7 Luật. Ngoài 4 luật sửa đổi, bổ sung là Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Dạy nghề, thì sẽ có ba luật mới là Luật Việc làm, Luật An toàn vệ sinh lao động và Luật Tiền lương tối thiểu.

Theo 24h.com.vn
Đào tạo Kế toán Kimi sưu tầm

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

Nhập siêu tháng 8 tăng đột biến

Trạng thái hứng khởi của xuất khẩu trong tháng 7 đã không còn ở tháng 8 này. Nhập siêu trở lại rất nhanh cùng với nhập khẩu tăng đột biến. Cùng với vàng và dầu thô tiếp tục ở thế bất lợi, tháng 8 gần như là sự đảo ngược của tháng 7.
Theo số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu tháng 8/2011 đã lùi về mức 8,3 tỷ USD, giảm mạnh tới hơn 1 tỷ USD so với tháng kỷ lục đạt được trước đó. Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu bất ngờ tăng thêm khoảng 900 triệu USD để chạm mốc 9,1 tỷ USD, một mức cao mới từ trước đến nay. 

Trạng thái ngoại thương đi cùng sự đổi ngôi của xuất nhập khẩu cũng nhanh chóng đảo chiều. Từ mức xuất siêu 1,1 tỷ USD trong tháng trước, đến tháng này Việt Nam trở lại nhập siêu khoảng 800 triệu USD. 

Nhìn vào xu hướng ngoại thương các năm trước, kim ngạch xuất nhập khẩu thường chỉ tăng cao nhất vào khoảng quý 4. Nhưng năm nay, với những cú ngoặt gãy góc ở các con số kim ngạch kỷ lục vừa nêu, dường như câu chuyện đã khác.

Nhìn rộng hơn, trong khi nền kinh tế toàn cầu liên tục phát đi dấu hiệu bất ổn với tiêu thụ hàng hóa giảm mạnh và lạm phát tăng cao thì ngoại thương Việt Nam dường như chịu tác động không nhiều lắm, thể hiện trên con số kim ngạch liên tục đạt những đỉnh cao mới.

Nhưng điều này có nguyên nhân của nó. Nhìn vào cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, các nhóm vẫn giữ được mức tăng là nông sản, kim loại, khoáng sản, hàng tiêu dùng thiết yếu giá rẻ và sản phẩm gia công. Đây đều là những nhóm hàng không chịu tác động lớn từ khủng hoảng, thậm chí có cơ hội tăng giá do khả năng đầu cơ giá trị.

Phía nhập khẩu, Việt Nam nhập về chủ yếu là nguyên, nhiên liệu đầu vào sản xuất, trang thiết bị, phương tiện và linh kiện gia công…, là những mặt hàng không thể không nhập. 

Với đà tăng giá của nhiều nhóm sản phẩm xuất và nhập khẩu kéo dài nhiều tháng qua, Việt Nam dường như đang bị cuốn theo mặt bằng giá thế giới. 

Ước tính, trong khoảng 15,4 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu tăng thêm so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm nay, riêng yếu tố giá đóng góp khoảng 4,45 tỷ USD. Với nhập khẩu, các con số tương ứng là 14,1 tỷ USD và 5,83 tỷ USD (không tính ôtô và xe máy).

Như vậy, phải chăng Việt Nam đang chịu thiệt hơn khi xuất khẩu không được lợi về giá bằng khoản phải chi thêm do tăng giá nhập khẩu?

Trở lại với diễn biến kim ngạch tháng này, đóng góp gần như toàn bộ vào thay đổi chóng mặt của kim ngạch xuất nhập khẩu hai tháng gần đây, các nhân tố vàng và dầu thô cũng đảo ngược trạng thái từ tăng sang giảm, đặc biệt là vàng. 

Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, kim ngạch nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm chỉ còn đạt khoảng 200 triệu USD trong tháng 8, bằng khoảng 18% tháng trước. Nhưng, điểm đáng chú ý là so với số liệu của hải quan, gần như toàn bộ kim ngạch thể hiện trong nửa đầu tháng, khi mà giá vàng thế giới còn chưa đạt đỉnh.

Thông tin từ Tổng cục Thống kê cho biết thêm, trong tháng này, phía đầu nhập khẩu cũng cho con số ước tính khoảng 200 triệu USD. Nhưng, khác biệt là hơn một nửa con số kể trên được thể hiện trong giai đoạn cuối tháng, khi giá vàng liên tục khuynh đảo các kỷ lục giá mới.

Chưa thể xác định Việt Nam chịu ảnh hưởng thế nào trong giai đoạn giá vàng biến động lớn vừa qua. Tính đến thời điểm này, ước tính Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 2,52 tỷ USD kim ngạch nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm, chủ yếu ở giai đoạn giá thấp; nhập khẩu khoảng 650 triệu USD.

Với dầu thô, kim ngạch xuất khẩu tháng này cũng đã giảm so với tháng trước. Theo Tổng cục Thống kê, ước tính trong tháng 8 Việt Nam xuất khẩu khoảng 900 nghìn tấn dầu thô, đem về 750 triệu USD, giảm nhẹ về lượng nhưng giá trị đã hụt đi gần 100 triệu USD.

So sánh với mức giá bình quân trong 7 tháng đầu năm, riêng với lượng dầu thô xuất khẩu trong tháng 8/2011, Việt Nam “thiệt” khoảng 44 triệu USD do giá giảm.

Ở một diễn biến liên quan khác, giá xăng dầu nhập khẩu bình quân 8 tháng năm 2011 đã tăng khoảng 46,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Chốt lại ở tháng này, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt trên 60,8 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ; nhập khẩu tương ứng là trên 67 tỷ USD và tăng 25,4%. 

Như vậy, Việt Nam đã nhập siêu tổng cộng khoảng 6,2 tỷ USD trong 8 tháng năm 2011, bằng 10,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cùng thời kỳ.


Theo Vneconomy

Nhập siêu tháng 8 tăng đột biến

Trạng thái hứng khởi của xuất khẩu trong tháng 7 đã không còn ở tháng 8 này. Nhập siêu trở lại rất nhanh cùng với nhập khẩu tăng đột biến. Cùng với vàng và dầu thô tiếp tục ở thế bất lợi, tháng 8 gần như là sự đảo ngược của tháng 7.
Theo số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu tháng 8/2011 đã lùi về mức 8,3 tỷ USD, giảm mạnh tới hơn 1 tỷ USD so với tháng kỷ lục đạt được trước đó. Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu bất ngờ tăng thêm khoảng 900 triệu USD để chạm mốc 9,1 tỷ USD, một mức cao mới từ trước đến nay. 

Trạng thái ngoại thương đi cùng sự đổi ngôi của xuất nhập khẩu cũng nhanh chóng đảo chiều. Từ mức xuất siêu 1,1 tỷ USD trong tháng trước, đến tháng này Việt Nam trở lại nhập siêu khoảng 800 triệu USD. 

Nhìn vào xu hướng ngoại thương các năm trước, kim ngạch xuất nhập khẩu thường chỉ tăng cao nhất vào khoảng quý 4. Nhưng năm nay, với những cú ngoặt gãy góc ở các con số kim ngạch kỷ lục vừa nêu, dường như câu chuyện đã khác.

Nhìn rộng hơn, trong khi nền kinh tế toàn cầu liên tục phát đi dấu hiệu bất ổn với tiêu thụ hàng hóa giảm mạnh và lạm phát tăng cao thì ngoại thương Việt Nam dường như chịu tác động không nhiều lắm, thể hiện trên con số kim ngạch liên tục đạt những đỉnh cao mới.

Nhưng điều này có nguyên nhân của nó. Nhìn vào cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, các nhóm vẫn giữ được mức tăng là nông sản, kim loại, khoáng sản, hàng tiêu dùng thiết yếu giá rẻ và sản phẩm gia công. Đây đều là những nhóm hàng không chịu tác động lớn từ khủng hoảng, thậm chí có cơ hội tăng giá do khả năng đầu cơ giá trị.

Phía nhập khẩu, Việt Nam nhập về chủ yếu là nguyên, nhiên liệu đầu vào sản xuất, trang thiết bị, phương tiện và linh kiện gia công…, là những mặt hàng không thể không nhập. 

Với đà tăng giá của nhiều nhóm sản phẩm xuất và nhập khẩu kéo dài nhiều tháng qua, Việt Nam dường như đang bị cuốn theo mặt bằng giá thế giới. 

Ước tính, trong khoảng 15,4 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu tăng thêm so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm nay, riêng yếu tố giá đóng góp khoảng 4,45 tỷ USD. Với nhập khẩu, các con số tương ứng là 14,1 tỷ USD và 5,83 tỷ USD (không tính ôtô và xe máy).

Như vậy, phải chăng Việt Nam đang chịu thiệt hơn khi xuất khẩu không được lợi về giá bằng khoản phải chi thêm do tăng giá nhập khẩu?

Trở lại với diễn biến kim ngạch tháng này, đóng góp gần như toàn bộ vào thay đổi chóng mặt của kim ngạch xuất nhập khẩu hai tháng gần đây, các nhân tố vàng và dầu thô cũng đảo ngược trạng thái từ tăng sang giảm, đặc biệt là vàng. 

Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, kim ngạch nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm chỉ còn đạt khoảng 200 triệu USD trong tháng 8, bằng khoảng 18% tháng trước. Nhưng, điểm đáng chú ý là so với số liệu của hải quan, gần như toàn bộ kim ngạch thể hiện trong nửa đầu tháng, khi mà giá vàng thế giới còn chưa đạt đỉnh.

Thông tin từ Tổng cục Thống kê cho biết thêm, trong tháng này, phía đầu nhập khẩu cũng cho con số ước tính khoảng 200 triệu USD. Nhưng, khác biệt là hơn một nửa con số kể trên được thể hiện trong giai đoạn cuối tháng, khi giá vàng liên tục khuynh đảo các kỷ lục giá mới.

Chưa thể xác định Việt Nam chịu ảnh hưởng thế nào trong giai đoạn giá vàng biến động lớn vừa qua. Tính đến thời điểm này, ước tính Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 2,52 tỷ USD kim ngạch nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm, chủ yếu ở giai đoạn giá thấp; nhập khẩu khoảng 650 triệu USD.

Với dầu thô, kim ngạch xuất khẩu tháng này cũng đã giảm so với tháng trước. Theo Tổng cục Thống kê, ước tính trong tháng 8 Việt Nam xuất khẩu khoảng 900 nghìn tấn dầu thô, đem về 750 triệu USD, giảm nhẹ về lượng nhưng giá trị đã hụt đi gần 100 triệu USD.

So sánh với mức giá bình quân trong 7 tháng đầu năm, riêng với lượng dầu thô xuất khẩu trong tháng 8/2011, Việt Nam “thiệt” khoảng 44 triệu USD do giá giảm.

Ở một diễn biến liên quan khác, giá xăng dầu nhập khẩu bình quân 8 tháng năm 2011 đã tăng khoảng 46,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Chốt lại ở tháng này, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt trên 60,8 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ; nhập khẩu tương ứng là trên 67 tỷ USD và tăng 25,4%. 

Như vậy, Việt Nam đã nhập siêu tổng cộng khoảng 6,2 tỷ USD trong 8 tháng năm 2011, bằng 10,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cùng thời kỳ.


Theo Vneconomy

Ghi nhận Tài sản cố định?


Câu hỏi 553:  Công ty tôi mua nhà rồi sau đó sửa chữa để làm trụ sở làm việc (tự mua vật tư, thuê thợ...). Sau khi hoàn thành thì khoản sửa chữa này ghi nhận là TSCĐ đúng không? Việc xác định giá trị của TSCĐ này là do DN tự xác định dựa trên hóa đơn chứng từ hợp pháp (Hóa đơn mua vật tư...) hay cần có 1 cơ quan độc lập xác định?

Trả lời:
Đoạn 24, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03 – Tài sản cố định hữu hình ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định: “Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình được ghi tăng nguyên giá của tài sản nếu chúng thực sự cải thiện trạng thái hiện tại so với trạng thái tiêu chuẩn ban đầu của tài sản đó, như:

(a)      Thay đổi bộ phận của TSCĐ hữu hình làm tăng thời gian sử dụng hữu ích, hoặc làm tăng công suất sử dụng của chúng…”

Đoạn 25, chuẩn mực trên cũng quy định “Chi phí về sửa chữa và bảo dưỡng TSCĐ hữu hình nhằm mục đích khôi phục hoặc duy trì khả năng đem lại lợi ích kinh tế của tài sản theo trạng thái hoạt động tiêu chuẩn ban đầu được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ”

Theo Thông tư 203/2009/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng va trích khấu hao tài sản cố định, Điều 7. Đầu tư nâng cấp, sửa chữa tài sản cố định thì
1Các chi phí doanh nghiệp chi ra để đầu tư nâng cấp tài sản cố định được phản ánh tăng nguyên giá của TSCĐ đó, không được hạch toán các chi phí này vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ;
2. Các chi phí sửa chữa tài sản cố định không được tính tăng nguyên giá TSCĐ mà được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ, nhưng tối đa không quá 3 năm”

Trong trường hợp của công ty bạn mua nhà rồi sửa chữa để làm trụ sở làm việc, nếu việc sửa chữa không làm nâng cấp nhà, không thực sự cải thiện trạng thái hiện tại so với trạng thái tiêu chuẩn ban đầu của tài sản, không thay đổi bộ phận của TSCĐ hữu hình làm tăng thời gian sử dụng hữu ích, hoặc làm tăng công suất sử dụng của chúng thì toàn bộ chi phí liên quan đến việc sửa chữa này được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ, nhưng tối đa không quá 3 năm. Chi phí sửa chữa này được tập hợp dựa vào chứng từ của các khoản chi phí phát sinh tại Công ty bạn như: hóa đơn mua vật tư, hợp đồng thuê thợ…

Việc sửa chữa nhà nếu làm nâng cấp nhà (ví dụ nâng cấp từ nhà 1 tầng thành nhà 2 tầng) thì toàn bộ chi phí chi ra để đầu tư nâng cấp nhà được ghi nhận tăng nguyên giá TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc. Giá trị tăng nguyên giá TSCĐ cũng được tập hợp dựa vào chứng từ của các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc đầu tư nâng cấp nhà tại Công ty bạn.


Theo vacpa.org.vn

Ghi nhận Tài sản cố định?


Câu hỏi 553:  Công ty tôi mua nhà rồi sau đó sửa chữa để làm trụ sở làm việc (tự mua vật tư, thuê thợ...). Sau khi hoàn thành thì khoản sửa chữa này ghi nhận là TSCĐ đúng không? Việc xác định giá trị của TSCĐ này là do DN tự xác định dựa trên hóa đơn chứng từ hợp pháp (Hóa đơn mua vật tư...) hay cần có 1 cơ quan độc lập xác định?

Trả lời:
Đoạn 24, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03 – Tài sản cố định hữu hình ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định: “Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình được ghi tăng nguyên giá của tài sản nếu chúng thực sự cải thiện trạng thái hiện tại so với trạng thái tiêu chuẩn ban đầu của tài sản đó, như:

(a)      Thay đổi bộ phận của TSCĐ hữu hình làm tăng thời gian sử dụng hữu ích, hoặc làm tăng công suất sử dụng của chúng…”

Đoạn 25, chuẩn mực trên cũng quy định “Chi phí về sửa chữa và bảo dưỡng TSCĐ hữu hình nhằm mục đích khôi phục hoặc duy trì khả năng đem lại lợi ích kinh tế của tài sản theo trạng thái hoạt động tiêu chuẩn ban đầu được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ”

Theo Thông tư 203/2009/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng va trích khấu hao tài sản cố định, Điều 7. Đầu tư nâng cấp, sửa chữa tài sản cố định thì
1Các chi phí doanh nghiệp chi ra để đầu tư nâng cấp tài sản cố định được phản ánh tăng nguyên giá của TSCĐ đó, không được hạch toán các chi phí này vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ;
2. Các chi phí sửa chữa tài sản cố định không được tính tăng nguyên giá TSCĐ mà được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ, nhưng tối đa không quá 3 năm”

Trong trường hợp của công ty bạn mua nhà rồi sửa chữa để làm trụ sở làm việc, nếu việc sửa chữa không làm nâng cấp nhà, không thực sự cải thiện trạng thái hiện tại so với trạng thái tiêu chuẩn ban đầu của tài sản, không thay đổi bộ phận của TSCĐ hữu hình làm tăng thời gian sử dụng hữu ích, hoặc làm tăng công suất sử dụng của chúng thì toàn bộ chi phí liên quan đến việc sửa chữa này được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ, nhưng tối đa không quá 3 năm. Chi phí sửa chữa này được tập hợp dựa vào chứng từ của các khoản chi phí phát sinh tại Công ty bạn như: hóa đơn mua vật tư, hợp đồng thuê thợ…

Việc sửa chữa nhà nếu làm nâng cấp nhà (ví dụ nâng cấp từ nhà 1 tầng thành nhà 2 tầng) thì toàn bộ chi phí chi ra để đầu tư nâng cấp nhà được ghi nhận tăng nguyên giá TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc. Giá trị tăng nguyên giá TSCĐ cũng được tập hợp dựa vào chứng từ của các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc đầu tư nâng cấp nhà tại Công ty bạn.


Theo vacpa.org.vn

Chính thức miễn thuế cho người thu nhập dưới 9 triệu đồng

Bộ Tài chính vừa cụ thể hóa Nghị quyết 08 của Quốc hội về việc miễn giảm thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp từ 1/8 đến 31/12/2011 bằng công văn 10790.
Đối với thuế thu nhập cá nhân (TNCN), các đối tượng hưởng lương và cá nhân kinh doanh có thu nhập tính thuế nằm trong bậc 1 của biểu thuế sẽ được miễn thuế đến cuối năm, áp dụng từ 1/8.
Như vậy, những người có thu nhập đến 9 triệu đồng/tháng sẽ không bị tính thuế. Với những cá nhân có người phụ thuộc thì mức thu nhập trong diện được miễn sẽ tính theo đúng cách tính hiện tại: thêm 1,6 triệu đồng/người phụ thuộc.
Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng yêu cầu Cục thuế các địa phương thông báo cho các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân về việc không khấu trừ thuế TNCN đối với các trường hợp chi trả cổ tức cho cá nhân từ ngày 1/8 (không tính cổ tức do các Ngân hàng cổ phần, quỹ đầu tư tài chính, tổ chức tín dụng chi trả cho cá nhân).
Đối với giao dịch chứng khoán trên sàn, mức khấu trừ từ nay đến cuối năm sẽ là 0,05%, giảm một nửa so với mức 0,1% trước đây.
Bộ Tài chính cũng đề nghị các tỉnh, thành phố chỉ đạo đẩy mạnh vận động, tuyên truyền tới các tổ chức, doanh nghiệp, hộ kinh doanh nhà trọ, hộ, cá nhân chăm sóc trông giữ trẻ, cung ứng suất ăn ca cho công nhân, người lao động, sinh viên… thực hiện việc giữ ổn định mức giá cho thuê nhà trọ, suất ăn ca, trông giữ trẻ như với mức giá cuối năm 2010. Đây là các đối tượng được giảm 50% mức thuế khoán kể từ ngày 1/8/2011 theo Nghị quyết của Quốc hội.
Đối với những trường hợp được giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp thì sẽ thực hiện theo văn bản hướng dẫn của Chính phủ và Bộ Tài chính.
Trước đó, ngày 6/8, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân từ tháng 8 đến hết tháng 12/2011. Theo ước tính, số thuế được giảm theo Nghị quyết này là trên 13.000 tỷ đồng.
Theo Dantri.com.vn