Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

Kế toán quản trị: Từ lý luận đến thực tiễn

Chào các bạn. Hôm nay mình mới suu tầm được bài viết rất hay về Kế toán quản trị, các bạn tham khảo nha.



Đối tượng của kế toán là tài sản và sự vận động của tài sản. Ở mức độ khái quát nhất thì đó là tài sản lưu động, tài sản cố định. Ở mức độ chi tiết hơn thì đó là các loại tài sản : tiền, nợ phải thu, các khoản đầu tư, hàng tồn kho, tài sản cố định, v.v…. Ở mức độ chi tiết hơn nữa là: tiền gì ? ở đâu ? nợ phải thu ở đối tượng nào? trong hạn thanh toán hay quá hạn? khoản đầu tư vào đối tượng nào? hiệu quả đầu tư ra sao? cụ thể từng thứ hàng tồn kho ở mức độ nào, chất lượng như thế nào? phù hợp vơi mục đích kinh doanh hay không? v.v… Cứ như vậy, tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý cụ thể mà chi tiết hơn nữa các đối tượng kế toán, nhằm cung cấp các thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý và điều hành tổ chức.

Để thực hiện việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình kinh tế tài chính, kế toán sử dụng các phương pháp:

- Lập chứng từ để thu nhận thông tin.

- Đánh giá để làm cơ sở cho việc ghi sổ, tổng hợp số liệu theo chỉ tiêu giá trị.

- Sử dụng tài khoản để tổng hợp số liệu, theo chỉ tiêu giá trị.

- Ghi sổ kép nhằm phản ánh tài sản theo hai khía cạnh: Hình thức tồn tại và nguồn hình thành.

- Kiểm kê nhằm xác định chính xác số lượng tài sản hiện có.

- Lập báo cáo nhằm cung cấp thông tin.

Những phương pháp này được hình thành trên cơ sở các yêu cầu của kế toán: phản ánh chính xác, phản ánh trung thực, phản ánh kịp thời và các yêu cầu cụ thể khác. Những yêu cầu này lại chính là do nhu cầu sử dụng thông tin đặt ra.

Xét theo đối tượng sử dụng thông tin thì nhu cầu sử dụng thông tin gồm: Nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp và các đối tượng bên trong doanh nghiệp. Mục dích sử dụng thông tin của các đối tượng này có khác nhau, nên nhu cầu thông tin của các đối tượng này cũng khác nhau.

Các đối tượng bên ngoài sử dụng các thông tin để phục vụ cho việc ra các quyết định liên quan đến mối quan hệ kinh tế, giữa doanh nghiệp và các đối tượng này hoặc là phục vụ cho mục tiêu quản lý kinh tế của Nhà nước.

Các đối tượng bên trong doanh nghiệp thì sử dụng các thông tin này phục vụ cho hoạt động quản lý và điều hành doanh nghiệp. Nhu cầu thông tin khác nhau sẽ quy định những nội dung thông tin khác nhau. Những nội dung thông tin có thể được cung cấp bởi những kênh thông tin khác nhau . Nhưng nếu những thông tin được cung cấp từ một kênh thì phải có tính thống nhất, tính hệ thống nghĩa là đối chiếu được và cần thiết phải đối chiếu, nhằm tăng cường tính chính xác, tính trung thực của thông tin.

Kênh thông tin kế toán cung cấp những thông tin về tình hình kinh tế tài chính của doanh nghiệp cho các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, thì các thông tin này phải có chung điểm xuất phát là hệ thống chứng từ ban đầu. Nhưng có sự khác nhau về xử lý thông tin thu thập được từ chứng từ ban đầu để cho ra các thông tin với nội dung phù hợp nhu cầu thông tin.

Điều này có nghĩa là phương pháp sử dụng trước hết là phương pháp kế toán, sau đó là kết hợp các phương pháp khác để có thể xử lý thông tin, đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin cụ thể khác nhau.

Từ những phân tích trên cho thấy:

Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống kế toán doanh nghiệp.

Đối tượng của kế toán quản trị cũng là tài sản và sự vận động của tài sản trong qúa trình sản xuất kinh doanh.

Mục tiêu của kế toán quản trị là cung cấp thông tin, đáp ứng yêu cầu quản lý cụ thể trong nội bộ doanh nghiệp.

Phạm vi của kế toán quản trị là :

Hạch toán kế toán trên TK cấp 2, 3,4… và sổ chi tiết, đồng thời hạch toán nghiệp vụ trên sổ chi tiết.



Phương pháp tiến hành Phương pháp để tiến hành kế toán quản trị gồm :

1. Phương pháp lập chứng từ : Chứng từ là giấy tờ chứng minh sự phát sinh,hoặc hoàn thành nghiệp vụ kinh tế. Chứng từ được lập phục vụ cho cả kế toán tài chính và kế toán quản trị. Do vậy ngoài những nội dung cơ bản của chứng từ để phục vụ yêu cầu kế toán tổng hợp trên TK cấp 1,cấp 2 (những nội dung này đã được quy định trong hệ thống chứng từ do nhà nước ban hành), kế toán còn phải căn cứ vào yêu cầu kế toán chi tiết trên TK cấp 3, 4 v.v… và sổ chi tiết để quy định thêm các nội dung ghi chép trên chứng từ để phục vụ yêu cầu này. Chứng từ sau khi lập được chuyển cho bộ phận kế toán tài chính và kế toán quản trị (mỗi bộ phận một liên ) để làm căn cứ hạch toán.

2. Phương pháp đánh giá: Là dùng tiền biểu hiện giá trị tài sản. Nguyên tắc đánh giá của kế toán tài chính là : giá gốc (giá thực tế ). Trong kế toán quản trị, tài sản cũng được đánh giá theo giá gốc,để đối chiếu số liệu giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị.Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin nhanh phục vụ yêu cầu quản lý tức thời, cần thiết phải sử dụng giá ước tính (giá hạch toán ) trong kế toán quản trị

3. Phương pháp tài khoản là phương pháp tập hợp hệ thống hoá nghiệp vụ kinh tế theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ nhằm phản ánh và giám đốc thường xuyên từng đối tượng kế toán. Trong kế toán quản trị các TK được sử dụng để theo dõi từng đối tượng của kế toán quản trị, đây là đối tượng của kế toán tài chính được chi tiết hoá, theo yêu cầu cung cấp thông tin của nhà quản lý doanh nghiệp.

4. Phương pháp ghi sổ kép là cách ghi nghiệp vụ kinh tế vào TK kế toán, thể hiện được mối quan hệ giữa các đối tượng kế toán.

5. Phương pháp tính giá thành : Là phương pháp xác định chi phí trong một khối lượng sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoàn thành sản xuất. Trong kế toán quản trị việc tính giá thành được tiến hành theo yêu cầu hạch toán nội bộ.

6. Phương pháp lập báo cáo nội bộ theo yêu cầu cung cấp thông tin của các nhà quản lý doanh nghiệp theo các cấp quản lý trong nội bộ doanh nghiệp.

7. Phương pháp đồ thị để phục vụ cho việc ra các quyết định, lập phương án kinh doanh.

Như vậy phương pháp kế toán quản trị cũng là phương pháp kế toán nói chung, nhưng có các đặc điểm riêng để phù hợp với tính chất thông tin của kế toán quản trị, đó là :

-Tính đặc thù nội bộ của các sự kiện.

-Tính linh hoạt, tính thích ứng với sự biến biến đổi hàng ngày của các sư kiện.

-Tính chất phi tiền tệ được chú trọng nhiều hơn trong các chỉ tiêu báo cáo.

-Tính dự báo ( phục vụ việc lập kế hoạch ).

-Tính pháp lý đối với tài liệu gốc và tính hướng dẫn ở thông tin trên báo cáo quản trị.

-Không có tính chuẩn mực chung.

Trên cơ sở mục tiêu và yêu cầu quản lý của nhà quản trị doanh nghiệp, để xác định nội dung kế toán quản trị trong từng doanh nghiệp cụ thể.

Nội dung này mang tính đặc thù của từng doanh nghiệp, nhưng có thể khái quát thành các nội dung sau :

 ° Kế toán chi tiết tài sản cố định: Gồm việc hạch toán về số lượng, giá trị, các thông số kỹ thuật, thời gian khấu hao, mức khấu hao, sự biến động về số lượng, về giá trị do nhượng bán, do thanh lý, do chuyển nội bộ, do điều chuyển theo lệnh cấp trên v.v…

° Kế toán chi tiết vật tư , hàng hoá, thành phẩm : Gồm việc hạch toán theo số lượng và giá trị của từng thứ, từng nhóm, theo từng kho (nơi quản lý ).

° Kế toán chi tiết nợ phải thu, nợ phải trả theo từng đối tượng nợ, từng nghiệp vụ phát sinh nợ và thanh toán nợ, theo dõi kỳ hạn thanh toán nợ, hạch toán chi tiết khoản nợ bằng ngoại tệ và bằng đồng Việt Nam.

° Kế toán chi phí phát sinh theo từng đối tượng hạch toán, theo nội dung kinh tế, theo khoản mục giá thành. Xác định giá thành sản xuất cho các đối tượng tính giá thành.

° Kế toán chi tiết nguồn vốn kinh doanh theo các đối tượng góp vốn.

° Kế toán chi phí và thu nhập theo từng bộ phận trong doanh nghiệp, theo yêu cầu hạch toán nội bộ.

° Lập các báo cáo nội bộ theo định kỳ (do các nhà quản lý doanh nghiệp quy định và báo cáo nhanh theo yêu cầu đột xuất để phục vụ yêu cầu ra quyết định của các nhà quản lý trong doanh nghiệp.

° Thu thập và xử lý thông tin để phục vụ yêu cầu ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn.

° Lập dự toán để phục vụ chức năng giám sát quá trình sản xuất kinh doanh.

Những nội dung trên đã bao gồm nội dung kế toán chi tiết mà lâu nay hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện, nhưng ở mức độ ghi nhận sự kiện, chưa tổng hợp thành các thông tin phục vụ yêu cầu quản lý.

Ngoài ra còn những nội dung mang tính tài chính để phục vụ yêu cầu lập kế hoạch thì hầu như chưa thực hiện. Điều này chấp nhận được với một nền kinh tế mang tính bao cấp, trong đó tính chủ động không nhiều, tính dự báo không phải là yêu cầu cấp thiết.

Trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mở, doanh nghiệp hoạt động trong môi trường đầy phức tạp, nhiều biến động, nhiều rủi ro. Doanh nghiệp phải chủ động trong kinh doanh, phải tự quyết định các vấn đề kinh tế tài chính có liên quan đến sự tồn tại của doanh nghiệp, do đó thông tin để làm cơ sở cho các quyết định phải là thông tin nhiều mặt, thông tin hữu ích. Những thông tin này không chỉ trong khuôn khổ hạch toán kế toán, mà nó còn mang tính hạch toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ và không loại trừ các chỉ tiêu tài chính, bởi vì kế toán và tài chính luôn có các quan hệ mật thiết trong các sự kiện kinh tế. Loại thông tin này chỉ được cung cấp bởi bộ phận kế toán quản trị trong doanh nghiệp.

Như vậy kế toán quản trị không chỉ là kế toán chi tiết mà là kế toán chi tiết và phân tích phục vụ yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, phần kế toán tài chính là phần được chú trọng duy nhất, mặc dù các yêu cầu về cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý luôn được đặt ra.

Có tình trạng này là do : Hệ thống kế toán doanh nghiệp vốn vận hành theo chế độ kế toán thống nhất, do Nhà nước ban hành, mà chế độ kế toán hiện nay mới chỉ cập nhật đến nội dung kế toán tài chính (trong đó bao gồm kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết ở một số đối tượng ). Cho nên các doanh nghiệp đã không tự tìm đến hệ thống kế toán nào khác ngoài hệ thống kế toán tài chính.

Để hệ thống kế toán quản trị được áp dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam, vận hành đồng thời với hệ thống kế toán tài chính, cần phải có sự hướng dẫn, sự tác động từ phía Nhà nước.

Tuy nhiên kế toán quản trị xuất phát từ mục tiêu quản lý doanh nghiệp, mang tính đặc thù của loại hình hoạt động, nên không thể mang tính bắt buộc thống nhất trong các loại hình doanh nghiệp. Về phía doanh nghiệp, là chủ thể hành động, cần phải nhận thức rõ sự cần thiết của kế toán quản trị, phân biệt phạm vi kế toán quản trị, nội dung kế toán quản trị, phương pháp tiến hành kế toán quản trị, để tổ chức bộ máy tiến hành công tác kế toán quản trị, tổ chức sổ, xây dựng hệ thống báo cáo



Chức năng của kế toán quản trị

Trước hết phải xuất phát từ mong muốn của nhà quản lý các cấp trong nội bộ doanh nghiệp để đặt ra các yêu cầu thông tin cụ thể cho mọi lĩnh vực gắn với các chức năng quản lý (Chức năng lập kế hoạch,chức năng kiểm tra, chức năng tổ chức và điều hành, chức năng ra quyết định).

- Đối với chức năng lập kế hoạch. Kế toán quản trị phải cung cấp các chỉ tiêu về số lượng và giá trị phù hợp với chỉ tiêu kế hoạch. Các chỉ tiêu này vừa có tính quá khứ, vừa có tính dự báo.

-Đối với chức năng kiểm tra. Kế toán quản trị cung cấp các thông tin theo mục tiêu quản lý đặt ra. Các thông tin này được hình thành trên cơ sở tổ chức hạch toán chi tiết, bằng phương pháp kế toán và bằng phương pháp phân tích đồ thị biểu diễn các thông tin do kế toán và các nghành khác cung cấp.

-Đối với chức năng điều hành, kế toán quản trị cung cấp thông tin về các chỉ tiêu hoạt động chủ yếu bằng chỉ tiêu phi tiền tệ, trên các báo cáo nhanh. Để có các thông tin này. Phần lớn các chứng từ phục vụ cho kế toán quản trị có cùng nguồn gốc với kế toán tài chính, nhưng do mục đích cung cấp thông tin khác nhau, nên mức độ xử lý chứng từ có khác nhau.



Do vậy trên cùng một hệ thống chứng từ kế toán, chỉ cần thêm vào các nội dung chi tiết để phục vụ hạch toán chi tiết theo yêu cầu của kế toán quản trị. Mặt khác cũng cần thiết số liệu từ nguồn khác. Ví dụ : Số liệu về thống kê thị phần các mặt hàng trên thị trường, số liệu thống kê về lao động,về thị trường lao động.v.v…



Báo cáo quản trị

Từ những nội dung thông tin cụ thể để thiết kế các báo cáo quản trị, quy định trách nhiệm và định kỳ lập các báo cáo quản trị do bộ phận kế toán quản trị lập bao gồm :

1. Báo cáo về vốn bằng tiền : tiền mặt tại quỹ theo từng loại tiền, tiền gửi theo từng TK ngân hàng theo từng loại tiền (VNĐ, ngoại tệ các loại)

2. Báo cáo về công nợ : Các khoản nợ phải thu, nợ phải trả, phân loại theo kỳ hạn thanh toán (trong hạn thanh toán, quá hạn thanh toán.v.v…)

3. Báo cáo về chi phí và giá thành sản xuất : báo cáo chi phí theo từng nội dung kinh tế, báo cáo chi phí theo từng bộ phận, báo cáo giá thành thực tế theo đối tượng tính giá thành theo khoản mục (nếu lập giá thành kế hoạch theo khoản mục ), theo yếu tố (nếu lập giá thành kế hoạch theo yếu tố ). Ngoài việc tính giá thành thực tế, còn có thể cần phải tính giá thành thực tế kết hợp với dự toán để cung cấp thông tin kịp thời phục vụ việc định giá bán sản phẩm hoặc ký hợp đồng sản xuất, hợp đồng cung cấp dịch vụ. Trong trường hợp này các báo cáo giá thành được thể hiện bằng phiếu tính giá thành. Phiếu tính giá thành được thiết kế trên cơ sở phương pháp tính giá thành đã lựa chọn.

4. Báo cáo doanh thu, chi phí và kết quả theo từng bộ phận. Tuỳ theo từng cấp quản lý mà thiết kế nội dung báo cáo cho thích hợp với sự phân cấp trong trách nhiệm quản lý cho bộ phận đó. Ví dụ : Với từng tổ sản xuất thì trách nhiệm quản lý là các chi phí trực tiếp sản xuất, với phân xưởng sản xuất thì trách nhiệm quản lý là chi phí trực tiếp sản xuất và chi phí chung ở phân xưởng sản xuất, đối với từng loại sản phẩm, loại hoạt động trong doanh nghiệp thì trách nhiệm quản lý là chi phí, thu nhập và kết quả của từng loại sản phẩm, loại hoạt động đó v.v…



Nhằm phục vụ cho việc lập các báo cáo quản trị, cần phải tổ chức sổ kế toán để ghi chép theo mục tiêu kế toán quản trị : Cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ doanh nghiệp.

Sổ kế toán quản trị gồm:

1. Các sổ chi tiết theo đối tượng kế toán cần chi tiết ở mức độ cao nhất mà không thể mở TK chi tiết. Ví dụ : các đối tượng là TSCĐ, hàng tồn kho, công nợ v.v…Việc ghi chép trên các sổ chi tiết này theo chỉ tiêu tiền tệ và phi tiền tệ. Chỉ tiêu tiền tệ được tổng hợp lại để đối chiếu với phần kế toán tổng hợp thuộc kế toán tài chính. Trong sổ chi tiết có thể sử dụng chỉ tiêu tiền tệ theo giá ước tính để phục vụ cho việc cung cấp thông tin nhanh, cuối kỳ sẽ điều chỉnh về chỉ tiêu giá thực tế để đối chiếu.

2. Các sổ TK cấp 3, cấp 4 v.v …sử dụng trong trường hợp các đối tượng kế toán có yêu cầu chi tiết không cao.

3. Các bảng tính,các biểu đồ, sử dụng trong trường hợp cần phải tính toán các chỉ tiêu, biểu diễn các chỉ tiêu, phục vụ cho việc khảo sát các tình huống để làm căn cứ cho việc ra các quyết định ngắn hạn, dài hạn.

Kiến nghị

Ngày nay nền kinh tế Việt Nam đang chuyển động để vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường. Hệ thống kế toán Việt Nam đang được chuyển đổi phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường, thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế. Việc xác định rõ phạm vi kế toán quản trị là vấn đề cần thiết để làm cơ sở cho việc tổ chức công tác kế toán quản trị và hoàn thiện nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp. Nhà nước cần tham gia vào việc xây dựng hệ thống kế toán quản trị với tư cách là người hướng dẫn, không can thiệp sâu vào công tác kế toán quản trị,nhưng cũng không nên thả nổi vấn đề này, bởi vì nhà nước Việt Nam có chức năng quản lý nền kinh tế ở tầm vĩ mô.

Để thực hiện yêu cầu này, nhà nước cần phải làm một số công việc sau:

1. Hoàn thiện về lý luận kế toán quản trị ở Việt Nam, bao gồm các nội dung:

- Xác định rõ phạm vi kế toán quản trị và nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp.

- Xác lập mô hình kế toán quản trị cho các loại hình doanh nghiệp: công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại, giao thông, bưu điện v.v…

- Xác lập mô hình kế toán quản trị theo từng quy mô : Doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp quy mô trung bình, doanh nghiệp quy mô nhỏ.

2. Hướng dẫn, định hướng kế toán quản trị đối với các doanh nghiệp, tập trung vào một số nội dung:

- Phân loại chi phí.

- Số lượng,nội dung khoản mục giá thành sản phẩm dịch vụ.

- Xác định các trung tâm chi phí, theo từng ngành khác nhau.

- Yêu cầu hạch toán chi tiết về thu nhập.

- Các phương pháp tập hợp chi phí theo đối tượng hạch toán.

- Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang.

- Các phương pháp tính giá thành.

- Các loại dự toán.

- Các loại báo cáo quản trị.

- Các chỉ tiêu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

- Các loại sổ chi tiết, thẻ chi tiết. v.v…

Kế toán quản trị mang đậm tính đặc thù, là vấn đề mang màu sắc chi tiết, gắn với từng doanh nghiệp cụ thể, do đó không thể có quy định thống nhất về nội dung kế toán quản trị cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên rất cần sự hướng dẫn, định hướng của Nhà nước như trên, để kế toán quản trị có thể dễ dàng đi vào thực tế, và thực sự được thừa nhận như một tất yếu không thể hòa tan vào kế toán tài chính

Theo webketoan.vn

Kế toán trong doanh nghiệp phần mềm

Câu hỏi 552: Kế toán trong doanh nghiệp phần mềm
Chào các bạn.

Doanh nghiệp tôi là một doanh nghiệp phần mềm được thành lập T02/2009. Sau khi thành lập Công ty có ký được một HĐ viết phần mềm CRM cho một doanh nghiệp địa ốc. Sau khi dự án hoàn thành và chuyển giao phần mềm cho khách hàng sử dụng thì công ty xuất hóa đơn tài chính. Lúc đó kế toán mới ghi nhận doanh thu và toàn bộ chi phí liên quan tới hợp đồng này kế toán đã đưa vào giá vốn của dự án và tính vào kết quả sản xuất kinh doanh trong năm 2009.
Sang năm 2010 Ban giám đốc Công ty muốn đưa giá trị của phần mềm này trở thành tài sản vô hình của Công ty. Vậy cho tôi hỏi, nếu giờ đưa toàn bộ giá trị của phần mềm CRM này (bằng giá vốn) có được không và sẽ phải hoạch toán như thế nào cho đúng với chuẩn mực kế toán Việt nam ?
Trả lời:

Đoạn 06, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 - Tài sản cố định (TSCĐ) vô hình ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính có định nghĩa về TSCĐ vô hình như sau: “Là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình”
Đoạn 16, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 nêu trên có quy định: “Một tài sản vô hình được được ghi nhận là TSCĐ vô hình phải thỏa mãn đồng thời:

- Định nghĩa về TSCĐ vô hình; và

- Bốn (4) tiêu chuẩn ghi nhận sau:

+ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do tài sản đó mang lại;

+ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy;

+ Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm;

+ Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.”

Đồng thời, đoạn 49, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 nêu trên quy định “Chi phí liên quan đến tài sản vô hình đã được doanh nghiệp ghi nhận là chi phí để xác định kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ trước đó thì không được tái ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ vô hình”

Như vậy, Đối với trường hợp của Công ty bạn, là 1 doanh nghiệp kinh doanh phần mềm, sản phẩm phần mềm sau khi hoàn thành và bàn giao đã được ghi nhận doanh thu và các chi phí liên quan đã được ghi nhận giá vốn để tính kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ trước thì không thể tiếp tục lại ghi nhận toàn bộ giá trị của phần mềm này vào giá trị tài sản cố định vô hình của Công ty trong kỳ này được. Sản phẩm phần mềm nêu trên đã được bàn giao toàn bộ tài sản và giá trị cho khách hàng của Công ty bạn theo hợp đồng đã ký kết nên về mặt pháp lý thì tài sản vô hình trên không còn do doanh nghiệp bạn nắm giữ và cũng không có cơ sở để xác định giá trị của tài sản để ghi nhận là TSCĐ vô hình theo đúng quy định tại đoạn 16, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 nêu trên.

Theo vacpa.org.vn
Công ty Đào tạo Kế toán Tổng hợp Kimi sưu tầm
Xem thêm khóa học kế toán Tổng hợp tại Kimi.

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

Thông báo về việc thay đổi cách kết xuất tờ khai 01/GTGT ra file điện tử


Tổng cục Thuế xin thông báo về việc thay đổi cách kết xuất tờ khai 01/GTGT ra file điện tử (*.pdf) từ phần mềm Hỗ trợ kê khai phiên bản 3.0 (HTKK 3.0) như sau:
Theo hướng dẫn trước đây về việc kết xuất tờ khai 01/GTGT ra file điện tử (*.pdf) thì người nộp thuế sẽ kết xuất tờ khai theo các bước sau:
* Bước 1: Sau khi hoàn thiện tờ khai, nhấn nút “In”.
* Bước 2: Chọn máy in: “CutePDF Writer”.
* Bước 3: Nhập thông số Trang in là: “1,a,b,…” (Trong đó: 1 là trang tờ khai chính; a, b, …: là các trang chứa các phụ lục 01-3/GTGT, 01-4A/GTGT … Trừ phụ lục 01-1/GTGT và 01-2/GTGT do khối lượng dữ liệu lớn và kết xuất dưới dạng file Excel).
* Bước 4: Nhấn nút “In”.
* Bước 5: Chọn đường dẫn lưu file tờ khai điện tử.
* Bước 6: Nhấn “Save” để lưu file điện tử.
Tuy nhiên, ứng dụng HTKK 3.0 có thay đổi về tờ khai 01/GTGT liên quan đến việc kết xuất tờ khai điện tử như sau: Tờ khai chính có số trang là 2 (Trang 1 và trang 2). Vì vậy, khi kết xuất ra tờ khai điện tử, người nộp thuế cần thực hiện như sau:
* Tại bước 3: Nhập thông số Trang in là: “1,2,a,b,…” (Trong đó: 1, 2 là các trang chứa tờ khai chính; a, b, …: là các trang chứa các phụ lục 01-3/GTGT, 01-4A/GTGT … Trừ phụ lục 01-1/GTGT và 01-2/GTGT do khối lượng dữ liệu lớn và kết xuất dưới dạng file Excel)
* Các bước 1, 2, 4, 5, 6: Thực hiện như cũ.

Xin thông báo để người nộp thuế biết và thực hiện.
kekhaithue.gdt.gov.vn

Náo nức khai giảng năm học mới 2011-2012


Náo nức khai giảng năm học mới 2011-2012
(Dân trí) - Ngày 4/9, cùng với các trường học khắp cả nước, nhiều trường học trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, Bình Định, Hà Tĩnh... đã tổ chức khai giảng năm học mới 2011-2012.
Học sinh Sóc Trăng trong niềm vui ngày khai trường. (Ảnh: B.D)
Tại Trường THPT Dân tộc Nội trú Huỳnh Cương, nhà trường đã long trọng tổ chức lễ khai giảng năm học mới với sự có mặt của ông Lê Thanh Hải, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; ông Lâm Ren, Phó Trưởng Ban tổ chức tỉnh ủy; ông Lâm Phương, Phó trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy; ông Ngô Hùng, Bí thư tỉnh đoàn; ông Kim Sơn, phó giám đốc Sở GD-ĐT.
Theo báo cáo của nhà trường, năm học 2010-2011, trường đã đạt nhiều thành tích cao trong công tác dạy học như: Có 7 học sinh đạt danh hiệu Học sinh giỏi cấp tỉnh (trong đó có 1 giải nhất, 2 giải nhì, ba giải 3); tỉ lệ học sinh lên lớp đạt 87,9%; thi tốt nghiệp lớp 12 đỗ 93,9%; có 46 em thi đậu nguyện vọng 1 vào các trường CĐ, ĐH (đạt tỉ lệ 38,3%). Trường được công nhận danh hiệu “Trường thi đua Tiên tiến xuất sắc” và được UBND tỉnh đề nghị tặng Bằng khen của Chính phủ. Năm học 2011-2012, trường có 18 lớp với 558 học sinh. Theo kế hoạch, nhà trường phấn đấu đạt tỉ lệ 28% học sinh khá giỏi trong học tập, thi tốt nghiệp lớp 12 đạt trên 90%.
Khai giảng tại Trường THPT Dân tộc Nội trú Huỳnh Cương, Sóc Trăng. (Ảnh: B.D)
Cùng ngày, Trường THCS & THPT Lê Hồng Phong (TP Sóc Trăng) cũng tổ chức lễ khai giảng năm học mới. Tới dự có ông Quách Việt Tùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; ông Võ Thanh Nhàn, Chủ tịch UBND thành phố Sóc Trăng. Dù mới được thành lập năm 2010-2011 nhưng năm học qua, trường THCS & THPT Lê Hồng Phong cũng đã đạt được những thành tích cao như có 11 học sinh đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp thành phố (trong đó có 4 giải nhất); thi học sinh giỏi giải toán bằng máy tính cầm tay có 4 em đạt giải; hai em đạt giải trong kỳ thi “Văn hay chữ tốt” cấp thành phố; có 1 em đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh…
Năm học này trường có 54 lớp (33 lớp cấp THCS, 21 lớp cấp THPT) với 2.108 học sinh và 110 giáo viên. Mục tiêu trong năm học mới của nhà trường là giữ vững, phát huy những thành tích đã đạt được trong năm qua, phấn đấu xậy dựng trường ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng.
Khai giảng năm học mới tại Trường THCS & THPT Lê Hồng Phong (TP Sóc Trăng). (Ảnh: B.D)
Trước đó, ngày 3/9, lễ khai giảng năm học mới cũng được tổ chức tại trường Dân tộc Nội trú Kế Sách. Ngày 1/9, ông Kim Sơn, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT Sóc Trăng đã dự lễ khai giảng năm học mới và lễ công nhận Trường tiểu học Tân Long 1 huyện Ngã Năm đạt chuẩn Quốc gia. 
Theo kế hoạch, ngày 5/9, tất cả các trường học trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng sẽ đồng loạt tổ chức khai giảng năm học mới 2011-2012.
Sáng nay 4/9, tại TP Quy Nhơn, Bình Định, thầy và trò Trường THPT Quốc học Quy Nhơn long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập trường (1921-2011) và khai giảng năm học mới 2011- 2012.
Tham dự lễ có ông Lê Hữu Lộc, phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, các đồng chí ban lãnh đạo các sở, ban, ngành, cựu học sinh đang học tập công tác khắp các tỉnh thành cùng 1.700 học sinh của trường.
Trang nghiêm trong lễ chào cờ. (Ảnh: Doãn Công)
Phát biểu tại buổi lễ, ông Lê Hữu Lộc đánh giá cao những thành tích cao mà thầy và trò Trường THPT Quốc học Quy Nhơn đạt được trong những năm qua. Ông Lê Hữu Lộc nhấn mạnh: “Trong năm học mới đề nghị thầy và trò của trường tiếp tục cố gắng phát huy những thành tích đã đạt được, tiếp nối truyền thống vẻ vang của trường”.
Hàng ngàn học sinh Trường THPT Quốc học Quy Nhơn nô nức ngày khai giảng. (Ảnh: Doãn Công)
Thay mặt nhà trường ông Trần Xuân Bình, phó Bí thư tỉnh ủy, Hiệu trưởng nhà trường lên đọc diễn văn khai mạc, báo cáo kết quả của trường và cảm ơn sâu sắc đến sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh, các ban ngành trong tỉnh. Thầy và trò trường Quốc Học Quy Nhơn xin hứa: “Nguyện ra sức dạy tốt, học tốt để viết tiếp những trang vàng truyền thống vẻ vang”.
Nhân dịp này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gửi thư chúc mừng cán bộ giáo viên, học sinh trường nhân dịp bước vào đầu năm học mới.
Tại buổi lễ, thầy và trò Trường Quốc học Quy Nhơn vinh dự được nhận lẵng hoa và thư chức mừng của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận.
Tại Hà Tĩnh, nhân buổi lễ khai giảng năm học 2011-2012 vào sáng 3/9, Trường tiểu học Bùi Xá (xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) đã công bố đổi tên trường mang tên cố nhà văn Nguyễn Xuân Thiều.
 
Lễ khai giảng năm học năm 2011-2012 vào sáng ngày 3/9 với toàn thể học sinh và giáo viên nhà Trường tiểu học Bùi Xá (xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) là một buổi lễ rất đặc biệt khi ngôi trường chính thức đổi tên thành Trường tiểu học Nguyễn Xuân Thiều, mang tên nhà văn, đại tá quân đội Nguyễn Xuân Thiều (1930 - 2007).
 
Học sinh biểu diễn văn nghệ chào mừng sự kiện đặc biệt của ngôi trường. (Ảnh: Hà Phương)
 
Ngay sau lễ công bố, nhiều nhà văn, đại diện gia đình nhà văn Nguyễn Xuân Thiều đã bày tỏ niềm xúc động, vinh dự khi từ đây tên tuổi của một nhà cách mạng đã chiến đấu, cống hiến cho đất nước, một nhà văn đã giành nhiều giải thưởng lớn với nhiều tác phẩm bất hủ, một người con nặng tình với quê hương đã được gắn với hành trình phát triển của mái trường nơi đào tạo, bồi dưỡng thế hệ tương lai.
Nhân dịp này các con cháu của nhà văn Nguyễn Xuân Thiều đã tặng số tiền 1,2 tỷ đồng để nhà trường xây dựng phòng dạy Tin học phụ vụ công tác giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh.
Cố nhà văn, Đại tá Xuân Thiều (tên khai sinh là Nguyễn Xuân Thiều) sinh ra từ gia đình nông dân ở xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà văn Xuân Thiều đã nhận được nhiều giải thưởng văn học qua các cuộc thi truyện ngắn của: Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật VN, Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu, Giải thưởng của UB Thiếu niên, Nhi đồng và Hội Nhà văn VN. 
Ông cũng được Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì và ba, huy chương Quân kỳ quyết thắng, huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
Nhóm PV Dân trí

Áp lực tỷ giá cuối năm 2011


Áp lực tỷ giá cuối năm 2011
Tỷ giá USD tại VN đã duy trì ổn định dưới 21.000 đồng trong vòng 3 tháng qua. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia dự báo, áp lực tăng giá của ngoại tệ này trong những tháng cuối năm rất lớn.
Cầu tăng, giá tăng

Tính đến hết tháng 6, tín dụng ngoại tệ tăng hơn 23% so với cuối năm 2010 trong khi tín dụng tiền đồng tăng chưa tới 3%. Đây là kết quả tất yếu khi lãi suất cho vay tiền đồng vẫn ở mức cao ngất ngưởng trong thời gian qua đã khiến hàng loạt doanh nghiệp (DN) có xu hướng vay vốn bằng ngoại tệ. Nhưng cũng vì thế, những con sóng ngầm trên thị trường ngoại tệ là hoàn toàn có thật. Theo TS Hoàng Công Gia Khánh - Trưởng khoa Ngân hàng, ĐH Kinh tế - Luật TP.HCM, việc chuyển sang vay vốn bằng ngoại tệ, nhất là USD của DN thời gian qua khá lớn sẽ dẫn đến áp lực trả nợ tại một thời điểm khá cao.Thông thường khoảng thời gian 3-6 tháng sau khi vay. Khi đó nhu cầu về USD tăng lên và đây là một trong những áp lực làm cho giá USD có thể biến động theo chiều hướng gia tăng. Đồng quan điểm trên, ông  Huỳnh Thế Du - giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, cho rằng bản chất của nền kinh tế VN là luôn thiếu USD do tình trạng nhập siêu kéo dài. Do đó việc giữ tỷ giá USD ổn định trong thời gian qua chỉ mang tính tạm thời. Từ nay đến cuối năm khả năng tăng giá USD là tất yếu vì áp lực về cầu ngoại tệ này đang tăng lên. Trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước (NHNN) muốn giảm lãi suất thì phải bơm tiền đồng và điều đó cũng sẽ tạo thêm áp lực cho tỷ giá.
Trong báo cáo triển vọng thị trường tiền tệ số ra tháng 8.2011 vừa qua, Tập đoàn HSBC cũng dự báo tỷ giá USD tại VN sẽ tăng lên 21.500 đồng từ quý 3/2011 và sẽ duy trì mức tỷ giá này đến hết quý 2/2012. VND cũng là đồng tiền duy nhất tại khu vực Nam Á (mà HSBC đưa vào so sánh) sẽ giảm giá so với USD trong khi đồng tiền của các nước như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan,... đều được dự báo sẽ tăng giá so với USD trong cùng thời gian này.

Cần linh hoạt hơnTheo NHNN, dự trữ ngoại hối đã gia tăng thêm được 5 tỉ USD trong thời gian qua. Dựa trên số liệu của IMF công bố, ước tính dự trữ ngoại hối của VN hiện tại vào khoảng 16 - 17 tỉ USD. Mức dự trữ ngoại hối này tuy không phải quá lớn nhưng cũng có thể giúp NHNN can thiệp vào thị trường ngoại hối trong ngắn hạn. Thế nhưng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa luôn gia tăng vào những tháng cuối năm dẫn đến nhu cầu về thanh toán của DN tăng; lạm phát cao... nên cuối năm luôn là thời điểm nhạy cảm biến động về vấn đề tỷ giá. Vì vậy, giảm áp lực tăng giá USD hoặc tránh cho thị trường những cú sốc đột ngột là bài toán mà NHNN phải thực hiện. TS Hoàng Công Gia Khánh cho rằng NHNN nên chấp nhận biến động tỷ giá linh hoạt theo sát cung cầu của thị trường và không nên xem tỷ giá như một cái neo cố định. NHNN phải xác định tỷ giá mục tiêu đến cuối năm và có lộ trình để thị trường thích nghi. Đặc biệt NHNN cần mạnh dạn phát đi thông điệp rõ ràng về vấn đề này để người dân tránh kỳ vọng vào việc tăng giá USD trong thời gian tới.Theo các chuyên gia kinh tế, nếu giá USD biến động thì sẽ càng khó có cơ hội để kéo giảm lãi suất VND như mong muốn. Nếu cứ áp dụng cứng ngắc chính sách hành chính để neo giữ tỷ giá USD cố định thì sẽ tiếp tục xảy ra tình trạng hai giá trong giao dịch USD như trước đây. Vì vậy theo ông Huỳnh Thế Du, chính sách tỷ giá cần linh hoạt hơn trong từng thời điểm. Ngoài ra, vẫn phải tiếp tục kiên trì chính sách tiền tệ chặt chẽ, giảm việc in thêm tiền hay nguồn vốn đưa vào những khu vực không hiệu quả càng thêm bất lợi trong việc kiểm soát lạm phát và tỷ giá. TS Lê Thẩm Dương - ĐH Ngân hàng TP.HCM, nhấn mạnh: NHNN phải nhanh chóng có ngay các giải pháp công bố trong tháng 8 để tạo niềm tin cho người dân vì các tín hiệu căng thẳng lên tỷ giá USD đã quá rõ. Bởi càng để chậm, việc kỳ vọng vào tỷ giá USD tăng hay giảm đều nguy hiểm như nhau vì nó sẽ khiến cho thị trường tiền tệ không ổn định và sẽ dẫn theo nhiều hệ lụy khác.
Theo ffa.com.vn

Lương tối thiểu có thể tự điều chỉnh theo biến động giá


Điều chỉnh lương tối thiểu thế nào?

Nếu được thông qua Luật Lương tối thiểu năm 2014 thì lương trả cho người lao động sẽ tự động điều chỉnh theo biến động giá.

Hiện nay, mức lương tối thiểu năm 2011 hiện tại như sau:

VùngMức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 1/10/2011 – 31/12/2012
I2.000.000 đồng/tháng
II1.780.000 đồng/tháng
III1.550.000 đồng/tháng
IV1.400.000 đồng/tháng

Bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Vụ Lao động – Tiền lương, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết, Bộ đang có kế hoạch soạn thảo Luật Tiền lương tối thiểu, dự kiến sẽ được trình Quốc hội thông qua vào năm 2014.

Đại diện Vụ Pháp chế của Bộ này cho hay, Luật Lương tối thiểu sẽ quy định những căn cứ để xác định mức lương tối thiểu, bao gồm: nhà ở, ăn uống, đi lại, bảo hiểm… và quy định những thành phần nào có quyền điều chỉnh mức lương tối thiểu. Hiện nay chưa có quy định cụ thể những căn cứ xác định lương tối thiểu.
Theo Bộ luật Lao động, lương tối thiểu là một mức lương thấp nhất theo quy định. Đó là số tiền trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong xã hội với điều kiện làm việc và cường độ lao động bình thường, lao động chưa qua đào tạo nghề.

Khi Luật Lương tối thiểu ra đời, sẽ từng bước đảm bảo đời sống cho người lao động ở mức cơ bản nhất. Lương tối thiểu sẽ điều chỉnh theo biến động giá.

Cũng theo Đại diện Vụ Pháp chế, Luật sẽ quy định, khi giá cả biến động thì mức lương tối thiểu cũng phải điều chỉnh theo, tránh để tình trạng “lương chạy theo giá” như hiện nay.

Trong giai đoạn 2011 - 2016, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đăng ký với Chính phủ trình Quốc hội thông qua 7 Luật. Ngoài 4 luật sửa đổi, bổ sung là Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Dạy nghề, thì sẽ có ba luật mới là Luật Việc làm, Luật An toàn vệ sinh lao động và Luật Tiền lương tối thiểu.

Theo 24h.com.vn
Đào tạo Kế toán Kimi sưu tầm

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

Nhập siêu tháng 8 tăng đột biến

Trạng thái hứng khởi của xuất khẩu trong tháng 7 đã không còn ở tháng 8 này. Nhập siêu trở lại rất nhanh cùng với nhập khẩu tăng đột biến. Cùng với vàng và dầu thô tiếp tục ở thế bất lợi, tháng 8 gần như là sự đảo ngược của tháng 7.
Theo số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu tháng 8/2011 đã lùi về mức 8,3 tỷ USD, giảm mạnh tới hơn 1 tỷ USD so với tháng kỷ lục đạt được trước đó. Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu bất ngờ tăng thêm khoảng 900 triệu USD để chạm mốc 9,1 tỷ USD, một mức cao mới từ trước đến nay. 

Trạng thái ngoại thương đi cùng sự đổi ngôi của xuất nhập khẩu cũng nhanh chóng đảo chiều. Từ mức xuất siêu 1,1 tỷ USD trong tháng trước, đến tháng này Việt Nam trở lại nhập siêu khoảng 800 triệu USD. 

Nhìn vào xu hướng ngoại thương các năm trước, kim ngạch xuất nhập khẩu thường chỉ tăng cao nhất vào khoảng quý 4. Nhưng năm nay, với những cú ngoặt gãy góc ở các con số kim ngạch kỷ lục vừa nêu, dường như câu chuyện đã khác.

Nhìn rộng hơn, trong khi nền kinh tế toàn cầu liên tục phát đi dấu hiệu bất ổn với tiêu thụ hàng hóa giảm mạnh và lạm phát tăng cao thì ngoại thương Việt Nam dường như chịu tác động không nhiều lắm, thể hiện trên con số kim ngạch liên tục đạt những đỉnh cao mới.

Nhưng điều này có nguyên nhân của nó. Nhìn vào cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, các nhóm vẫn giữ được mức tăng là nông sản, kim loại, khoáng sản, hàng tiêu dùng thiết yếu giá rẻ và sản phẩm gia công. Đây đều là những nhóm hàng không chịu tác động lớn từ khủng hoảng, thậm chí có cơ hội tăng giá do khả năng đầu cơ giá trị.

Phía nhập khẩu, Việt Nam nhập về chủ yếu là nguyên, nhiên liệu đầu vào sản xuất, trang thiết bị, phương tiện và linh kiện gia công…, là những mặt hàng không thể không nhập. 

Với đà tăng giá của nhiều nhóm sản phẩm xuất và nhập khẩu kéo dài nhiều tháng qua, Việt Nam dường như đang bị cuốn theo mặt bằng giá thế giới. 

Ước tính, trong khoảng 15,4 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu tăng thêm so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm nay, riêng yếu tố giá đóng góp khoảng 4,45 tỷ USD. Với nhập khẩu, các con số tương ứng là 14,1 tỷ USD và 5,83 tỷ USD (không tính ôtô và xe máy).

Như vậy, phải chăng Việt Nam đang chịu thiệt hơn khi xuất khẩu không được lợi về giá bằng khoản phải chi thêm do tăng giá nhập khẩu?

Trở lại với diễn biến kim ngạch tháng này, đóng góp gần như toàn bộ vào thay đổi chóng mặt của kim ngạch xuất nhập khẩu hai tháng gần đây, các nhân tố vàng và dầu thô cũng đảo ngược trạng thái từ tăng sang giảm, đặc biệt là vàng. 

Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, kim ngạch nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm chỉ còn đạt khoảng 200 triệu USD trong tháng 8, bằng khoảng 18% tháng trước. Nhưng, điểm đáng chú ý là so với số liệu của hải quan, gần như toàn bộ kim ngạch thể hiện trong nửa đầu tháng, khi mà giá vàng thế giới còn chưa đạt đỉnh.

Thông tin từ Tổng cục Thống kê cho biết thêm, trong tháng này, phía đầu nhập khẩu cũng cho con số ước tính khoảng 200 triệu USD. Nhưng, khác biệt là hơn một nửa con số kể trên được thể hiện trong giai đoạn cuối tháng, khi giá vàng liên tục khuynh đảo các kỷ lục giá mới.

Chưa thể xác định Việt Nam chịu ảnh hưởng thế nào trong giai đoạn giá vàng biến động lớn vừa qua. Tính đến thời điểm này, ước tính Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 2,52 tỷ USD kim ngạch nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm, chủ yếu ở giai đoạn giá thấp; nhập khẩu khoảng 650 triệu USD.

Với dầu thô, kim ngạch xuất khẩu tháng này cũng đã giảm so với tháng trước. Theo Tổng cục Thống kê, ước tính trong tháng 8 Việt Nam xuất khẩu khoảng 900 nghìn tấn dầu thô, đem về 750 triệu USD, giảm nhẹ về lượng nhưng giá trị đã hụt đi gần 100 triệu USD.

So sánh với mức giá bình quân trong 7 tháng đầu năm, riêng với lượng dầu thô xuất khẩu trong tháng 8/2011, Việt Nam “thiệt” khoảng 44 triệu USD do giá giảm.

Ở một diễn biến liên quan khác, giá xăng dầu nhập khẩu bình quân 8 tháng năm 2011 đã tăng khoảng 46,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Chốt lại ở tháng này, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt trên 60,8 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ; nhập khẩu tương ứng là trên 67 tỷ USD và tăng 25,4%. 

Như vậy, Việt Nam đã nhập siêu tổng cộng khoảng 6,2 tỷ USD trong 8 tháng năm 2011, bằng 10,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cùng thời kỳ.


Theo Vneconomy